Việt Nam hôm nay

https://lh4.googleusercontent.com/jwHXKk9yK83mb2U0iyp-OSXs7OZgoEcJKB4V-xqOO7STOu0djuO_hHd_dM8GkXjIamwCDoDrZRAdRPT5gaYIUOXwHgEk7mRpK7R7aGCo-eeVOtK72Nk

Wednesday, 7 September 2016

Ý kiến: Làm Nghị sỹ là làm gì?


Ý kiến: Làm Nghị sỹ là làm gì?

Luật sư Ngô Ngọc Trai Gửi cho BBCVietnamese.com
  • 6 tháng 9 2016
Nathan Law (giữa), 23 tuổi, có thực sự quá trẻ để làm nghị sỹ?
Trong cuộc bầu cử Hội đồng lập pháp Hong Kong mới đây một chàng thanh niên 23 tuổi đã trúng cử Nghị sỹ.
Chàng thanh niên này là một trong những lãnh đạo phong trào ‘Biểu tình ô dù’ hồi năm 2014 nhằm đòi quyền độc lập tự chủ cho Hong Kong.
Việc một thanh niên 23 tuổi trở thành Nghị sỹ khiến nhiều người thắc mắc trẻ thế mà đã làm Nghị sỹ. Vậy làm Nghị sỹ là làm gì?

Xuất xứ

Trong lịch sử phát triển nền văn minh nhân loại, biết bao thế hệ đã nhọc công kiếm tìm suy nghĩ về các mô hình chính quyền, cái mà nó có thể thúc đẩy thăng tiến hoặc kìm hãm cả một dân tộc, giống nòi.
Ban đầu thì ở mọi nơi chính quyền đều do một ông vua làm chủ, nắm toàn quyền định đoạt số phận và tài sản của mọi tầng lớp dân chúng theo sở thích yêu ghét của ông ta.
Nhưng có một giai đoạn trong lịch sử loài người cách nay hơn hai nghìn năm xuất hiện nền văn minh Hy Lạp, ở nơi đó chính quyền được nắm giữ bởi toàn thể những công dân tự do. Người ta thảo luận hàng ngày ở quảng trường về các vấn đề của thành phố, đặt ra chính sách và chỉ định người giải quyết.
Nền văn minh Hy Lạp tồn tại không được bao lâu thì tàn lụi, mô hình chính quyền dân chủ trực tiếp kiểu đó cũng biến mất, thế giới trở lại đồng nhất với mô hình chính quyền thuộc về ông vua.

Vài ba trăm năm trước đây do sự phát triển của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và hiểu biết về các giá trị nhân phẩm con người, nền văn minh phương Tây đã cho ra đời một kiểu mô hình chính quyền mới là chính quyền đại diện, nó trở thành mô hình kiểu mẫu cho toàn thể thế giới hiện nay.


Theo mô hình này thì quyền lực chỉ thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ nhân của đất nước. Song nhân dân vì sự đông đảo và mải lo làm ăn nên không thể quan tâm giải quyết hết các công việc của đất nước, cho nên sẽ bầu ra những người đại diện cho mình để lập ra một hội đồng tối cao có tên gọi là Nghị viện hoặc Quốc hội.

Hội đồng tối cao này nắm toàn quyền quyết định về các vấn đề đất nước như quyết định việc chi tiêu ngân sách, quyết định việc chiến tranh với nước ngoài, ban hành các bộ luật để điều chỉnh hoạt động của dân chúng.
Đặc biệt là để giải quyết các vấn đề của đất nước thì cơ quan tối cao sẽ bầu ra một chính phủ với kết cấu nhân sự phù hợp để giao việc thực thi các công việc.

Hội đồng tối cao sẽ chỉ giữ vai trò bàn luận và quyết định các vấn đề, còn việc thực hiện công việc sẽ do chính phủ thực hiện. Hội đồng tối cao giữ vai trò giám sát, nếu chính phủ làm việc không tốt sẽ bị loại bỏ thay thế ngay.

Dù cho có thể khác nhau đôi chút song về cơ bản các hệ thống chính quyền trên toàn thế giới hiện nay đều được thiết lập theo nguyên lý cách thức như vậy.

‘Chính thể đại diện’

Điện Westminster, tòa nhà Quốc hội Anh ở London
Để hiểu rõ hơn về mô hình chính thể đại diện và vai trò của Nghị viện (hay Quốc hội) và từ đó thấy được một người trẻ có nên làm Nghị sỹ không, thì tốt nhất là tìm giải đáp qua tác phẩm của triết gia người Anh, ông John Stuart Mill.

Tác phẩm Chính thể đại diện tên tiếng Anh là Representative government được xuất bản ở Anh từ năm 1861 tới nay đã một thế kỷ rưỡi. Mới đây cuốn sách được Nhà xuất bản Tri thức cho xuất bản bản tiếng Việt do ông Nguyễn Văn Trọng và Bùi Văn Nam Sơn dịch và giới thiệu.

Đây là cuốn sách mô tả, lý giải cặn kẽ mô hình chính thể đại diện. Nó trở thành sách giáo khoa cho bất kỳ một nhà nước mới hình thành nào. Vậy tác giả triết gia viết gì về Quốc hội và Chính phủ?

Ông viết: "Có một sự khác biệt triệt để giữa việc kiểm soát công việc của chính quyền và việc thực sự làm công việc đó. Tất cả các nước hiểu biết hệ thống đại diện trong thực tiễn đều thừa nhận rằng các hội đồng đại biểu đông người không nên làm công việc quản lý của chính quyền."
Tác giả kết luận:
"Thay cho chức năng cai trị hoàn toàn không thích hợp với mình, chức năng đích thực của một Quốc hội đại diện là giám sát và kiểm soát chính phủ, soi ánh sáng của tính công khai lên các hành vi cai trị, buộc chính phủ phải giải trình về các hành vi mà bất cứ ai đó thấy chúng đáng nghi ngờ, phê bình chỉ trích chúng nếu thấy chúng đáng lên án, và nếu những thành viên chính phủ lạm dụng tín nhiệm trong các công việc được giao phó hay thực hiện chúng theo một cung cách xung đột với tinh thần cân nhắc vì quốc gia, thì đuổi họ ra khỏi nhiệm sở và bổ nhiệm những người kế nhiệm."


Như vậy công việc chính của một Nghị sỹ sẽ là giám sát và thúc đẩy chính phủ. Điều này thì chỉ cần sự nhiệt tình tìm hiểu các vấn đề đời sống hàng ngày là có thể thấy ngay các vấn đề mà người dân cần chính phủ giải quyết là gì và thúc giục chính phủ thực hiện. 

Một người trẻ 23 tuổi sẽ không gặp khó trong một công việc như vậy.

Để làm rõ thêm thì thử hỏi, nếu một thanh niên 23 tuổi không nên làm Nghị sỹ, vậy phải chăng Nghị sỹ chỉ nên là những người đã từng trải với kiến thức uyên thâm trên từng lĩnh vực?

Triết gia John Stuart Mill cho ta một gợi ý, ông viết: "Cơ quan đại diện không phải là một chọn lọc từ những trí tuệ chính trị lớn nhất của đất nước mà qua ý kiến của những người này rất khó suy ra đúng được ý kiến của dân chúng.
"Nhưng cơ quan đại diện cần là một mẫu chính xác cho mọi trình độ trí tuệ trong nhân dân, mà tất cả đều được quyền có tiếng nói trong các công việc chung.

"Phần việc của họ là chỉ ra những gì cần thiết, là cơ quan đưa ra các đòi hỏi của dân chúng và là một nơi để tranh cãi lật đi lật lại mọi ý kiến liên quan tới những việc chung dù lớn hay nhỏ.
"Cùng với việc này là kiểm tra giám sát bằng phê bình và cuối cùng là rút lại sự ủng hộ đối với những quan chức cao cấp trên thực tế quản lý việc công hay những người bổ nhiệm những quan chức ấy."
Xét theo luận điểm này thì không có vấn đề gì khi chàng trai 23 tuổi kia trở thành Nghị sĩ đại diện tiếng nói cho thanh niên Hong Kong. Có nghĩa là không cứ phải những người tài giỏi như giáo sư Ngô Bảo Châu mới nên là Đại biểu quốc hội (ở Việt Nam).

Nghị sỹ Việt đang làm gì?


Các Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp được cho là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của cử tri, vậy lâu nay họ đã làm gì để phản ánh các vấn đề trong dân chúng?
Có thể nhận định là các Nghị sỹ Việt còn rất yếu kém mờ nhạt trong việc thực hiện vai trò đại diện, bằng chứng là có rất nhiều các vấn đề cần lên tiếng trước các sai trái trong hoạt động của cơ quan công quyền nhưng đã không được các Nghị sỹ Việt Nam giám sát chỉ ra, đấu tranh xử lý.
Ví như Đại biểu Hội đồng Nhân dân ở Hà Nội phải đi vào đời sống, phát hiện và phản ánh vấn đề ô nhiễm môi trường như thông tin một bài báo nêu ra mới đây, yêu cầu chính quyền thành phố xử lý, đó mới là hoạt động của Nghị sỹ (bài 'Dòng nước đỏ như máu bủa vây ngôi làng ở Hà Nội' trên báo điện tử Vietnamnet).

Hoặc các Nghị sỹ phải khai thác phanh phui chi tiêu sai phạm trong các bộ ban ngành và doanh nghiệp nhà nước. Như thông tin mới đây cho biết Tổng công ty đường sắt Việt Nam trong 3 năm mà có tới 188 đoàn cán bộ đi học tập kinh nghiệm ở nước ngoài gây tốn kém ngân sách.
Hoặc bài báo 'Tham quan học tập hay đi tiêu tiền chùa' trên báo Dân trí thì có rất nhiều cơ quan đưa người đi công tác nước ngoài như một hình thức tiêu tiền chùa, như Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2015 cũng có tới 170 đoàn đi nước ngoài, tính trung bình cứ 2 ngày Bộ này lại có một đoàn đi.


Các Đại biểu Quốc hội phải moi móc, tìm tòi những sự vụ như vậy để đưa ra ánh sáng, chất vấn trách nhiệm và yêu cầu xử lý. Đó là công việc của Đại biểu.
Nhưng thực tế các đại biểu ở Việt Nam hoạt động ra sao, đang làm những gì? Có lẽ họ cũng bàn luận trao đổi này nọ trong các buổi họp hoặc gửi những lá thư ý kiến đến các cấp chính quyền này nọ. Tựu chung lại họ đã làm quá ít việc so với thực tế đòi hỏi và họ làm theo một cách kém hiệu quả vì không phát huy tính hữu dụng của sự công khai.

Cho nên các sai phạm tiêu cực lâu nay được đánh giá là phần lớn do báo chí và người dân phản ánh và hoạt động của công quyền thì đầy rẫy các vấn đề bất cập sai trái.
Quay lại việc chàng trai 23 tuổi người Hong Kong được bầu làm Nghị sỹ, anh xem ra đã rất tích cực lên tiếng về các vấn đề chính trị xã hội cho nên đã giành được sự ủng hộ của dân chúng. Vậy nếu ở nơi khác anh có được hoan nghênh hay không?

Từ một thế kỷ rưỡi trước triết gia John Stuart Mill đã cho biết: "Những nhà cầm quyền vô trách nhiệm cần sự im lặng của những kẻ bị trị hơn là cần tới bất cứ tính tích cực nào, ngoại trừ tính tích cực mà họ khống chế được".
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả, gửi cho BBC Tiếng Việt từ Hà Nội.


__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Tuesday, 6 September 2016

ĐCSVN đã phản bội & chà đạp lên thân phận người lính QĐNDVN (bài II)

 
ĐCSVN đã phản bội & chà đạp lên thân phận người lính QĐNDVN (bài II)










Nguyễn Vĩnh Long Hồ (Danlambao) - Chế độ độc tài toàn trị của ĐCSVN đang trên tiến trình sụp đổ như các nước Đông Âu trước đây. Ngày tàn của chế độ công an trị này sẽ xảy ra nhanh hay chậm tùy thuộc vào những người lính QĐNDVN phản tỉnh, quay súng trở về với nhân dân VN, tiêu diệt lực lượng chó săn CAND là công cụ bảo vệ tập đoàn lãnh đạo ĐCSVN phản quốc, rồi lôi đầu tất cả bọn: Trọng Lú, Quang, Phúc, Ngân và những tên lãnh đạo ĐCSVN còn sống như Mười, Phiêu, Anh, Mạnh, Dũng, Sang... ra pháp trường cát để đền tội phản quốc bán nước, bán biển, bán đất, bán rừng... của Tổ tiên cho bọn Tàu khựa...


*

"Chính trị được xây dựng trên tương quan lực lượng. Những tư tưởng không mùi vị chiến đấu, sợ chiến tranh, lẫn tránh ánh sáng của lưỡi lê đều không phải là những tư tưởng có khả năng điều khiển xã hội." - Proudhon

ĐCSVN đâm sau lưng chiến sĩ Hải quân bảo vệ đảo Gạc Ma

Đầu tháng 3/1988, Hải quân Tàu cộng huy động lực lượng 2 hạm đội xuống khu vực quần đảo Trường Sa, tăng số tàu hoạt động ở đây thường xuyên có từ 9 đến 12 tàu chiến gồm: tàu khu trục tên lửa, 7 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu pháo, 2 tàu đổ bộ; tàu hỗ trợ gồm 3 tàu vận tải LSM, tàu đo đạc, tàu kéo và một pông-tông lớn.

Ngày 14/3/1988, vào thời điểm đó, chỉ có một đơn vị công binh Hải quân VN tới xây dựng một trạm quan sát trên đảo Gạc Ma. Sáng hôm đó, lính TC đổ bộ lên đảo Gạc Ma. Khi thấy quốc kỳ VN, chúng xông tới nhổ cờ ném xuống đất. Sau đó, lính TC nổ súng tàn sát man rợ các chiến sĩ VN. Báo chí TC làm ầm ỹ lên rằng, đó là một chiến thắng hoành tráng của hải quân nước này trước Hải quân VN, nhưng theo chuẩn Đô đốc Lê Kế Lâm nói: “Đó chỉ là một cuộc thảm sát hèn hạ. Tất cả chúng tôi lúc đó đều vô cùng căm phẩn.”

Kết quả, trong trận chiến ngày 14/3/1988, phía TC thống kê, họ đã bắn tổng cộng 285 viên đạn pháo 100mm và 266 viên đạn pháo 37mm, chưa kể các cỡ đạn nhỏ hơn. Sau này TC đã trao trả cho phía VN 9 người bị bắt sống và 64 người vẫn mất tích và được xem là đã hy sinh.

Sau nầy, Thiếu tướng QĐNDVN Lê Mã Lương tiết lộ thủ phạm tiếp tay TC đánh chiếm Gạc Ma, sát hại 64 chiến sĩ hải quân VN năm 1988 chính là “một đồng chí lãnh đạo cấp cao”. Theo tướng Lương, trước khi xảy ra trận hải chiến Hoàng Sa năm 1988, quân đội VN đã phải nhận lệnh “không được nổ súng” trong trường hợp Hải quân TQ đánh chiếm Gạc Ma hay bất kỳ một hòn đảo nào ở Trường Sa. Hậu quả là ngày 14/3/1988, hải quân TC dễ dàng đánh chiếm đảo Gạc Ma và ra tay thảm sát 64 chiến sĩ Hải quân VN chỉ sau một trận xâm chiếm đảo Gạc Ma ngắn ngủi.

Mặc dù Tướng Lê Mã Lương không nêu đích danh, nhưng ai cũng hiểu “đồng chí lãnh đạo cấp cao” là để ám chỉ tên tướng Lê Đức Anh, khi đó đang giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng. Đại tướng Lê Đức Anh (nguyên là phu cạo mủ đồn điền cao su) là người duy nhất trong Bộ Chính trị CS vào năm 1988 mới có đủ quyền lực để ra lệnh cho Quân đội VN không được nổ súng.

Theo tướng Lương trong một cuộc họp của Bộ Chính Trị diễn ra sau đó, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch đã đập bàn chất vấn: “Ai ra lệnh cho bộ đội không được nổ súng?” Theo các tài liệu đã được tiết lộ: Sau trận hải chiến Trường Sa năm 1988, đại tướng Lê Đức Anh đã đi đêm với TC, dẫn tới kết quả là “Hội nghị Thành Đô” diễn ra vào năm 1990. Phía Bắc Kinh áp lực ĐCSVN phải loại bỏ Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch vì quan điểm chống Tàu Cộng của ông nầy. Bộ Chính trị CSVN đã chấp nhận các yêu cầu của Bắc Kinh để mong được bình thường hóa quan hệ. Vài tháng sau, ông Nguyễn Cơ Thạch bị gạt bỏ mọi quyền lực. Còn Lê Đức Anh chỉ 2 năm sau lên làm chủ tịch nước.

Theo tướng Lương, lệnh không nổ súng, cộng với sự chênh lệch lực lượng và vũ khí đã khiến cho TC dễ dàng đánh chiếm đảo Gạc Ma, 64 người lính Hải quân VN hy sinh trên biển. Tướng Lương chua xót nói: “Đứng về góc độ người lính, đây là nỗi đau không chỉ của người lính hải quân mà là cả những người lính QĐNDVN.” Họ đã bị những tên lãnh đạo ĐCSVN chó má phản bội một cách trắng trợn.

Một câu chuyện dưới thời tên Nông Đức mạnh làm TBT. Một quan chức Bộ Ngoại giao đề nghị nhà nước nên yêu cầu TC để phía VN được đến Gạc Ma trục vớt 3 tàu bị bắn chìm cùng 64 thi thể các chiến sĩ hải quân hy sinh trên biển. Tên Nông Đức mạnh nghe xong liền nói: “Có nên làm việc đó không? Cứ để họ nằm đó cũng đã làm sao!”

Ngày 7 tháng 5 năm 1988, tại quần đảo Trường Sa, tên Đại tướng Lê Đức Anh lại diễn kịch, giả vờ mèo khóc chuột đã đọc lời thề: “Chúng ta xin thề trước hương hồn Tổ tiên ta, trước hương hồn của cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, xin hứa trước đồng bào cả nước, xin nhắn nhủ với các thế hệ mai sau: “Quyết tâm bảo vệ bằng được Tổ quốc thân yêu, bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa - một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc thân yêu của chúng ta.”


Thủ đoạn giết người bịt miệng

Bà Nguyễn Thị Xuân, vợ ông Nguyên Sỹ Minh, nhân chứng thảm sát Gạc Ma. Trước đó, ngày 14/3/2016 đã cho báo Thanh Niên biết và bài báo đã đăng tải: Ông Minh mới bị đụng xe, hiện nằm bất động tại nhà riêng. Ông Nguyên Sỹ Minh trú ở khu phố Niềm Xá, phường Kinh Bắc, thành phố Bắc Ninh bị tai nạn giao thông vào ngày 8/4/2016 khi đang trên đường đi làm thợ xây cách nhà 3 km. Một chiếc xe máy va quẹt khiến ông ngã trên đường, hai thanh gây tai nạn bỏ chạy luôn.

Tưởng cũng nên nhắc lại. Tại Hà Nội, đám “dư luận viên” những thanh niên mặc áo đỏ với ngôi sao vàng trước ngực đã ca hát cuồng loạn, nhảy múa lố lăng, dàn hàng ngang khiêu khích những người dân đến tưởng niệm 64 người lính Hải quân QĐNDVN bị lính Tàu khựa thảm sát hèn hạ tại đảo Gạc Ma, thuộc quần đảo Trường Sa vào năm 1988 vì lệnh của tên tướng Lê Đức Anh ra lệnh cho lực lượng phòng thủ: “không được nổ súng!”

Mỗi chế độ chính trị đều có quân đội riêng của nó (une armée pour sa politique), người lính tự vẽ nên chân dung của chế độ. QĐNDVN vốn thường tự hào nào là “Thành đồng bảo vệ Tổ Quốc”, “Khó khăn nào cũng vượt qua”, “Kẻ thù nào cũng đánh thắng”... Có thể nào QĐNDVN có truyền thống tốt đẹp như thế lại tự làm ô uế thanh danh của mình, khi hạ mình đi bằng 4 cẳng như lũ chó săn công an mật vụ hung dữ, muối mặt làm công cụ bảo vệ cho bọn thái thú cộng sản Hà Nội dùng để đàn áp dã man và tàn bạo đối với nhân dân? Cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại và trong nước vô cùng phẫn nộ trước âm mưu bán nước bỉ ổi của tập lãnh đạo CSVN chó má như các bạn đã thấy, chúng nó chẳng những đâm sau lưng, còn chà đạp lên thân phận người lính QĐNDVN.

Ba tháng sau thảm trạng ô nhiễm môi trường tại biển Miền Trung, nhà cầm quyền CSVN mới công bố kết quả, đổ lỗi cho công ty Formosa gây ra và nhận số tiền bồi thường giá bèo 500 triệu USD chia chát nhau, bỏ túi tiền bồi thường, còn dân chúng được bồi thường bằng gạo lên mốc meo.

Quần chúng khắp nước đang phẫn nộ cực điểm, các đảng viên kỳ cựu, các khoa học gia, anh chị em trí thức, các sinh viên học sinh phối hợp cùng giáo phận Vinh đều phản ứng quyết liệt. Tổ quốc đang vang vọng tiếng: “Nam quốc sơn hà nam đế cư”. Hồn thiêng sông núi đang đòi chúng ta hành động! Hãy vùng lên Nhân Dân Việt Nam anh hùng! Giờ phút của QĐNDVN làm nên lịch sử đã điểm! Hãy quay súng trở về cùng với nhân dân đứng lên bảo vệ Tổ quốc! Hãy chứng tỏ QĐNDVN là thành đồng bảo vệ Tổ quốc, chớ không phải bảo vệ ĐCSVN ăn hại đái nát, đã phản bội các anh và bán đứng đất nước cho ngoại bang...

Nếu người lính QĐNDVN không dám đứng lên làm nhiệm vụ đó ngày hôm nay mà vẫn cam tâm phục vụ và bảo vệ bọn lãnh đạo ĐCSVN, một bọn thái thú Việt gian bưng bô cho Rợ Đại Hán, họ đã đâm sau lưng và chà đạp lên thân phận người lính QĐNDVN thì đến năm 2020, ĐCSVN chấp nhận nước Việt Nam trở thành một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung Ương tại Bắc Kinh, như đã dành cho khu tự trị Tân Cương, Nội Mông và Tây Tạng theo tiến trình đàm phán bí mật Hội nghị Thành Đô vào ngày 3 và 4/9/1990 tại Thành Đô thuộc tỉnh Tứ Xuyên bên Tàu.

Đến lúc đó, người lính QĐNDVN sẽ trở thành những tên lính xung kích cho bọn Tàu Cộng, các bạn sẽ hy dinh xương máu của mình để mở đường cho chủ nghĩa bành trướng TC khắp nơi trên thế giới. Các anh sẽ chết bỏ thây xứ người thay cho lính Tàu khựa, các anh chết càng nhiều càng tốt. Bọn Bắc Kinh sẽ di dân Tàu ồ ạt xuống khu tự trị Việt Nam thực hiện sách lược “Hán hóa” như chúng đã từng thực hiện ở Tây Tạng, Tân Cương và Nội Mông.

Nhân dân Tàu sẽ chiếm tất cả đất đai, nhà cửa, ruộng vườn, tài sản của các anh. Vợ con của các anh từ đây sẽ mang họ Địch, họ Hàn, họ Tần, họ Tiêu... và vợ của các anh sẽ bị chúng bắt về Hoa Lục đưa vào nhà thổ lưu động, làm hộ lý cho lính Tàu khựa giải quyết vấn đề sinh lý vì hiện nay bọn Tàu khựa đang lâm vào tình trạng “trai thừa gái thiếu”.

Con gái của các anh, những thiếu nữ còn xuân sắc sẽ bị ép buộc lấy dân tàu khựa để lai giống, nếu không cũng bị triệt sản để hạn chế sinh sản, giống như dân Tây Tạng, Tân Cương và Nội Mông. Người dân Việt Nam sẽ trở thành dân tộc thiểu số ngay trên quê hương của mình... và dân chúng VN sẽ là nguồn cung cấp nội tạng vô tận cho Tàu khựa tha hồ khai thác... và trong số nầy sẽ có thân nhân hoặc vợ con của các anh.

Tôi hy vọng rằng, bài viết nầy sẽ cảnh tỉnh các anh và mong các anh sẽ hành động giống như người lính quân đội Romania, đứng về phía nhân dân Romania, quay súng tiêu diệt bọn chó săn công an mật vụ, công cụ bảo vệ chế độ độc tài khét tiếng Nicolae Ceausescu. Sau 24 năm cầm quyền, Ceausescu bị cáo buộc đã thảm sát hơn 60.000 người dân. Ngày lễ Giáng sinh năm 1989, vợ chồng nhà độc tài Ceausescu và Elena bị xử tử bởi một tiểu đội hành quyết để đền tội ác.

Tại Việt Nam hiện nay, phong trào vận động quần chúng phẫn nộ thay hình đổi dạng từ vận động Tôn giáo, kết hợp với phong trào vận động dân oan khiếu kiện đang biến thành phong trào “Vận động người Việt Nam yêu Tổ Quốc” đang trỗi dậy mãnh liệt và cuồng nhiệt trong lòng dân tộc VN chúng ta, đặc biệt hàng ngàn giáo dân thuộc giáo xứ Quý Hòa, giáo hạt Kỳ Anh và Giáo phận Vinh tiếp tục tiến hành biểu tình yêu cầu công ty Formosa gây thảm họa môi trường cút khỏi VN, “cá chết”, “biển chết”, cả một đất nước đầy dẫy những công trình mờ ám của Tàu khựa và cả một bờ biển miền Trung trở nên ô nhiễm trầm trọng ảnh hưởng đến nhiều thế hệ con cháu của chúng ta.

Người dân VN không thể làm gì khác được để tống cổ Formosa cút khỏi VN nhanh chóng, vì có chính quyền Trung ương và địa phương bao che vì há miệng mắc quai... 500 triệu USD chúng nó đã chia nhau bỏ túi cả rồi, dân chết mặc dân, tiền thầy đã bỏ túi mà trong đó có cả gia đình, thân nhân của người lính QĐNDVN. Các anh nghĩ sao?

oOo

Viết bài này, tôi hy vọng rằng, tất cả các anh người lính trong QĐNDVN sẽ phản tỉnh như người đồng chí của các anh: ông Châu Hiển Lý - Bộ đội tập kết 1954 - tôi xin ghi lại nguyên văn bài viết của ông Châu Hiển Lý để các anh suy ngẫm:

Cả nước đã bị lừa

Đã hơn 3 thập kỷ trôi qua, làm ăn cực khổ, thành tựu không thể nói là nhỏ, thế mà khoảng cách phát triển của VN so với thế giới sao vẫn xa vời! Không định thần nhìn lại tất cả, không khéo chúng ta sẽ ngày càng đi sâu vào con đường đi làm thuê, đất nước có nguy cơ trở thành đất nước cho thuê với triển vọng là bãi thải công nghiệp của các quốc gia khác! Giữa lúc thế giới đang bước vào thời kỳ kinh tế trí thức.

150 năm đã trôi qua, nhưng bài học này nguyên vẹn. Đó là 80 năm nô lệ, 40 năm với cuộc chiến tranh lớn (Pháp, Mỹ, Cam Bốt, Tàu) trong đó có 3 thế hệ liên tiếp gánh chịu những hy sinh khốc liệt, 35 năm xây dựng trong hòa bình với bao nhiêu lận đận và hôm nay Việt Nam vẫn còn là một nước chậm tiến.

Thảm kịch của ĐCSVN thực ra đã bắt đầu ngay từ ngày 30/4/1075. Sự bẽ bàng còn lớn hơn vinh quang chiến thắng. Hòa bình và thống nhất đã chỉ phơi bày một miền Bắc xã hội chủ nghĩa thua kém miền Nam, xô bồ và thối nát về mọi mặt. “Tính hơn hẳn” của chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành một trò cười. Sự tồi dở của nó được phơi bày rõ rệt cùng với sự nghèo khổ cùng cực của đồng bào miền Bắc.

Nhìn thấy sau hơn nửa thế kỷ dưới chế độ CSVN, hàng loạt các câu hỏi được đặt ra:

- Năm 1954 sau khi thắng Pháp, tại sao hơn 1 triệu người miền Bắc phải bỏ lại nhà cửa ruộng vườn di cư vào Nam? 

- Sau năm 1975, tại sao dân miền Nam không ồ ạt di cư ra miền Bắc sinh sống để được hưởng những thành quả của CNXH, mà chỉ thấy hàng triệu người miền Bắc lũ lượt kéo vào miền Nam lập nghiệp? 

- Tại sao, sau khi được “giải phóng” khỏi gông cùm của "Mỹ-Ngụy", hàng triệu người phải vượt biển tìm tự do trong cái chết gần kề ngoài biển cả mênh mông? 

- Tại sao nhân viên trong các phái đoàn cộng sản đi công tác thường hay trốn lại ở các nước tư bản dưới hình thức tị nạn chính trị? Tất cả thành phần nêu trên, họ muốn trốn chạy cái gì? 

- Tại sao đàn ông của các nước Tư bản Châu Á có thể đến VN chọn vợ như mua một hàng? 

- Tại sao các nước Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ? 

- Tại sao lại có cách biệt một trời một vực giữa Đông Đức và Tây Đức? Giữa Nam Hàn và Bắc Hàn? 

- Tại sao nước ta ngày nay phải quay trở lại với “kinh tế thị trường”, phải đi làm công cho các nước tư bản? 

- Tại sao các lãnh tụ cộng sản lại gởi con đi du học tại các nước Tư bản thù nghịch? 

Hỏi tức trả lời, người VN đã bỏ phiếu bằng chân từ một xã hội phi nhân tính. Mọi lý luận phản biện và tuyên truyền của Nhà nước CS đều trở nên vô nghĩa.

Sự thật đã quá hiển nhiên, nhưng Đảng CSVN không thể công khai nhìn nhận. Họ không thể nhìn nhận là đã hy sinh 4 triệu sinh mệnh trong một cuộc chiến cho một sự sai lầm. Nếu thế thì họ không còn tư cách gì để nắm chính quyền, ngay cả để hiện diện trong sinh hoạt quốc gia một cách bình thường.

Nhìn nhận một sự sai lầm kinh khủng như vậy, đòi hỏi một lòng yêu nước, một tinh thần trách nhiệm và một sự lương thiện ở mức độc cao đối với người lãnh đạo CS. Hơn nữa, họ đã được đào tạo để chỉ biết có bài bản cộng sản, bỏ chủ nghĩa này họ chỉ là những con số không về kiến thức. Cũng phải nói là trong bản chất con người, ít ai chịu từ bỏ quyền lực khi đã nắm được.

Thế là sau một cuộc cách mạng long trời lở đất với hơn 30 năm khói lửa, máu chảy thành sông, xương cao hơn núi, CS Hà Nội lại phải đi theo những gì trước đây họ từng hô hào phá bỏ tiêu diệt. Từ 3 dòng thác cách mạng chuyên chính vô sản, hy sinh 4 triệu mạng người, đi lòng vòng gần nửa thế kỷ, cộng sản Hà Nội lại phải rập khuôn theo mô hình tư bản để tồn tại. Hiện tượng “mửa ra rồi nuốt lại” này là một cái tát vào mặt các nhà tuyên giáo Trung ương.

Cách mạng cộng sản đã đưa ra những lý tưởng tuyệt vời nhất, cao cả nhất, đã thực hiện những hành động anh hùng vô song, đồng thời cũng gieo vào lòng người những ảo tưởng bền vững nhất.

Nhưng thực tế, chuyên chính vô sản đã diễn ra vô cùng bạo liệt, tàn khốc, chà đạp man rợ trên đạo lý, văn hóa và quyền con người ở tất cả các nước cộng sản nắm chính quyền. Sự dã man quỷ quyệt mánh lới và sự bất nhân khéo che đậy của cộng sản chưa hề thấy trong lịch sử loài người.

Con người có thể sống trong nghèo hèn, thiếu thốn. Nhưng người ta không thể sống mà không nghĩ, không nói lên ý nghĩ của mình. Không gì đau khổ hơn là buộc phải im lặng, không có sự đàn áp dã man hơn việc bắt người ta phải từ bỏ các tư tưởng của mình và “nhai lại” suy nghĩ của kẻ khác.

Nền chuyên chính vô sản nầy làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của một dân tộc, làm tê liệt sự hoạt động tinh thần của nhiều thế hệ, làm nhiều thế hệ con người trở thành những con rối, những kẻ mù chỉ biết nhai như con vẹt các nguyên lý bảo thủ giáo điều...

Công dân nhà nước cộng sản luôn luôn sợ hãi, luôn luôn lo lắng không biết mình có làm gì sai để khỏi phải chứng minh rằng mình không phải là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội. Cơ chế quyền lực cộng sản tạo ra hình thức đàn áp tinh vi nhất và bóc lột dã man nhất. Vì vậy, công dân trong các hệ thống cộng sản hiểu ngay điều gì được phép làm, còn điều gì không. Không phải là luật pháp mà là quan hệ bất thành văn giữa chính quyền và thần dân của nó đã trở thành “phương hướng hành động” chung cho tất cả mọi người.

Cơ chế hiện nay đang tạo kẽ hở tham nhũng, vơ vét tiền của nhà nước. Nhưng cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là mất tiền, mất của dù số tiền đó là hàng chục tỷ, hàng trăm tỷ. Cái lớn nhất bị mất, đó là suy đồi đạo đức. Chúng ta sống trong xã hội mà chúng ta phải tự nói dối nhau để sống...

Bác và Đảng đã gần hoàn thành việc “vô sản hóa” và “lưu manh hóa” con người Việt Nam (vô sản lưu manh là lời của Lê Nin). Vô sản chuyên chính (đảng viên) thì chuyển sang làm tư bản đỏ, còn vô sản bình thường (người dân) trở thành lưu manh do thất nghiệp, nghèo đói.

Nền kinh tế Việt Nam bây giờ chủ yếu là dựa trên việc vơ vét tài nguyên quốc gia, bán rẻ sức lao động của công nhân và nông dân cho các tập đoàn kinh tế ngoại bang, vay nước ngoài do nhà nước CS làm trung gian.

Huyền thoại giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp do Cộng sản VN dày công dàn dựng đã tan thành mây khói, khi giai cấp vô sản âm thầm lột xác trở thành các nhà tư bản đỏ đầy quyền lực đô la.

Do vậy, lý thuyết Cộng sản dần dần mất đi tính quyến rủ hoang dại, nó trở nên trần trụi và lai căn. Tất cả điều đó đã làm cho tất cà Đảng Cộng sản trên toàn thế giới dần dần chết đi. Dù GDP có tăng lên, nhiều công trình lớn được khánh thành do vay mượn quỹ tiền tệ Quốc tế, nhưng đạo đức xã hội cạn dần. Thực tế cho thấy rằng sức mạnh không nằm ở cơ bắp. Vũ khí, cảnh sát và hơi cay chỉ làm muỗi mòng giữa bầu trời rộng lớn nếu như lòng dân đã hết niềm tin vào chính quyền.

Học thuyết và xây dựng một xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa chỉ là một loại lý tưởng hóa, nó là chiếc bánh vẽ để lừa gạt dân không hơn không kém, Đảng nói một đằng làm một nẻo. Chẳng hạn Đảng nói: “xây dựng xã hội không có bóc lột” thì chính những đảng viên lại là những người trực tiếp tham nhũng, bóc lột người. Đảng nói “một xã hội chủ nghĩa có nền dân chủ gấp triệu lần xã hội tư bản” thì chính xã hội ta đang mất dân chủ trầm trọng. Đảng nói “đảng bao gồm những người tiên phong nhất, tiên tiến nhất” nhưng thực tế thì đảng đầy những người xấu xa nhất, đó là những kẻ đục khoét tiền bạc của nhân dân.

Sở dĩ ĐCSVN còn cố giương cao ngọn cờ XHCN đã bị thiêu rụi ở các nước sản sinh ra nó, vì chúng còn đang nhờ vào miếng võ độc “vô sản chuyên chính” là còng số 8, nhà tù và họng súng để tồn tại!

Nhân dân đang hy vọng rằng, Đảng sớm tự ý thức về tội lỗi tày trời của mình. Đảng sẽ phải thẳng thắn sám hối từ trong sâu thẩm, chứ không phải chỉ thay đổi bề ngoài rồi lại tiếp tục ngụy biện, chấp vá một cách trơ trẻn.

Người dân chẳng còn tí ti lòng tin vào bất cứ trò ma giáo nào mà chính phủ bé, chính phủ lớn, chính phủ gần, chính phủ xa đưa ra nữa. Họ nhìn vào ngôi nhà to tướng của ông chủ tịch xã, chú công an khu vực, bà thẩm phán, ông chánh án, bác hải quan, chị quản lý thị trường, kế các vị “đại biểu của dân” ở các cơ quan lập pháp “vừa đá bóng vừa thổi còi” mà kết luận: “tất cả đều là lừa bịp!”

Do đó XHCN sẽ được đánh giá như một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử Việt Nam. Con, cháu, chắt chúng ta nhắc lại nó như một thời kỳ... đồ đểu! Vết nhơ muôn đời của nhân loại. Một thời kỳ mà tâm trạng của người dân được thi sĩ cách mạng Bùi Minh Quốc tóm tắt qua 2 vần thơ:

“Quay mặt phía nào cũng ghìm cơn mửa!
  Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi!”

Chẳng lẽ tuổi thanh xuân của bao người con nước Việt dâng hiến cho cách mạng để cuối cùng phải chấp nhận một kết quả thảm thương như thế hay sao?

Chẳng lẽ máu của bao nhiêu người đổ xuống, vàng bạc tài sản của bao nhiêu kẻ hảo tâm đóng góp để cuối cùng tạo dựng nên một chính thể đê tiện và phi nhân như vậy?

Tương lai nào sẽ dành cho dân tộc và đất nước Việt Nam nếu cái tốt nhường chỗ cho cái xấu? Một xã hội mà cái xấu, cái ác nghênh ngang, công khai dương dương tự đắc, trong khi cái tốt, cái thiện phải lẩn tránh, phải rút vào bóng tối thì dân tộc đó không thế có tương lai! Một kết cục đau buồn và đổ vỡ là điều không thể tránh khỏi! (Hết trích).

Có một câu hỏi của ông Châu Hiển Lý: “Tại sao Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ?”. Tôi xin mạn phép trả lời câu hỏi nầy để các anh được rõ:

Thắng lợi bất ngờ Cách mạng Đông Âu vào năm 1989 và sự sụp đổ ngoạn mục của LX vào những năm 1991-1992 đã là đề tài ngoạn mục cho các chính trị gia cả tư bản lẫn cộng sản trên thế giới nghiên cứu sôi nổi về biến cố chính trị vô tiền khoáng hậu này.

Tổng họp các dữ kiện, phân tách tỉ mỉ rồi đánh giá biến cố lịch sử này vào cuối thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu chính trị trên thế giới đã tìm ra nguyên nhân chính làm cho khối Cộng sản Đông Âu: Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi, Đông Đức... và Liên Xô sụp đổ. Những nguyên nhân đó được sắp xếp theo thứ tự như sau:

- The Gorbachev (Yếu tố Gorbachev) 
- Economic failure (Sự thất bại trong phát triển) 
- The role of opposition forces (Vai trò của những lực lượng đối kháng) 
- Competition with the West (Sự cạnh tranh với phương Tây) 
- The Marxist corrective (Sự điều chỉnh chủ nghĩa Marx) 
- Imperial overstretch (Sự bành trướng quá mức) 
- Rising expectations (Hứa hẹn hão huyền) 
- Modernization and modernity (Áp lực của tiến trình hiện đại hóa) 
- Legitimation crisis (Sự khủng hoảng chính danh).

Chế độ độc tài toàn trị của ĐCSVN đang trên tiến trình sụp đổ như các nước Đông Âu trước đây. Ngày tàn của chế độ công an trị này sẽ xảy ra nhanh hay chậm tùy thuộc vào những người lính QĐNDVN phản tỉnh, quay súng trở về với nhân dân VN, tiêu diệt lực lượng chó săn CAND là công cụ bảo vệ tập đoàn lãnh đạo ĐCSVN phản quốc, rồi lôi đầu tất cả bọn: Trọng Lú, Quang, Phúc, Ngân và những tên lãnh đạo ĐCSVN còn sống như Mười, Phiêu, Anh, Mạnh, Dũng, Sang... ra pháp trường cát để đền tội phản quốc bán nước, bán biển, bán đất, bán rừng... của Tổ tiên cho bọn Tàu khựa. Mong lắm thay!!!



06.09.2016

Tổng hợp & nhận định

__._,_.___

Posted by: truc nguyen

Monday, 5 September 2016

ĐCSVN đã phản bội & chà đạp lên thân phận người lính QĐNDVN


On Sunday, September 4, 2016 8:48 PM, truc nguyen <> wrote:


 

ĐCSVN đã phản bội & chà đạp lên thân phận người lính QĐNDVN

Nguyễn Vĩnh Long Hồ

- Rõ ràng, tập đoàn Lãnh đạo ĐCSVN đã nhẫn tâm phản bội & chà đạp lên thân phận của lính QĐNDVN đã hy sinh chống quân Trung cộng xâm lược để bảo vệ tổ quốc. Chưa hết, một tờ báo Công An thành Hồ, số ra ngày thứ sáu 29/3/2013, có nội dung giả dối trơ trẻn, đọc xong cái tựa đề là tôi muốn nôn mửa: “đảng là máu thịt, trái tim và khối óc của quân đội”. Người lính QĐNDVN đã sáng mắt ra chưa?...


*

Sáng ngày 17 tháng 2 năm 2013 là ngày kỷ niệm 34 năm chiến tranh biên giới phía Bắc, các đơn vị ưu tú của QĐNDVN đã anh dũng chống quân xâm lược Trung Cộng tràn qua biên giới tấn công Việt Nam. Một phái đoàn gồm đồng bào mọi giới trong đó có các đảng viên cộng sản: Nguyễn Trọng Vĩnh - nguyên Ủy Viên TƯĐ; Ts. Nguyễn Đình Lộc - nguyên Bộ trưởng Bộ Tư Pháp; Nguyễn Trung - cựu Đại sứ CSVN tại Thái Lan; nhà thơ Việt Phương - nguyên thư ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng; ông Trần Đức Nguyên - thành viên Ban Tư Vấn của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Gs. Phạm Duy Hiển, Ts. Nguyễn Quang A, Ts. Nguyễn Xuân Diện... và nhiều thanh niên, trí thức Hà Nội đã mang vòng hoa “Đời đời nhớ ơn các liệt sỹ chống Trung Quốc xâm lược” tới Đài Tưởng Nhớ Liệt Sỹ tại Hà Nội. Rất đáng buồn là lực lượng bảo vệ an ninh Đài Tưởng Niệm cấm đặt vòng hoa này vào viếng liệt sỹ hy sinh chống quân Trung Quốc xâm lược. Một nhân viên an ninh viện dẫn lý do rằng đoàn tưởng niệm phải đăng ký trước và qua thủ tục kiểm tra vòng hoa. 

Nhìn lại trận chiến chống quân xâm lăng Trung Cộng:

Về phía Trung Cộng:

Ngày thứ bảy 17 tháng 2 năm 1979, lúc 3 giờ 30 sáng, pháo binh Trung Cộng ào ạt pháo kích vào các vị trí quân sự của VN tại các quận Tiên Lĩnh, Hà Quảng thuộc tỉnh Cao Bằng, mở đầu cho một tổng tấn công quy mô trên một chiến tuyến dài hơn 1.000 cây số dọc theo đường biên giới Việt-Trung từ Lai Châu đến Móng Cái.

Trong lịch sử chiến tranh Việt-Trung, những địa danh Cao Bằng, Lạng Sơn, Đông Khê, Thất Khê trở thành bãi chiến trường giữa hai nước. Ngay buổi sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, quân Trung Cộng đã tấn công 19 mục tiêu dọc theo biên giới hai nước. Trong số 26 mục tiêu bị tấn công từ cấp tiểu đoàn. Riêng Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cay bị tấn công bằng cấp sư đoàn.

Tổng số lực lượng vũ trang Trung Cộng trong những ngày đầu chiến dịch khoảng 80.000 quân, con số nầy tăng dần cho tới ngày cuối của chiến dịch lên tới 150.000 quân. Đó là chưa kể hàng mấy trăm ngàn binh sĩ khác giữ nhiệm vụ yểm trợ hay trừ bị ở hậu cần. Chỉ huy tổng quát mặt trận là tướng Hứa Thế Hanh, Tư lệnh Quân Khu Quảng Châu (gồm 2 tỉnh Quảng Đông & Quảng Tây). Tướng Hứa Thế Hanh đặt Bộ Tư Lệnh mặt trận tại Nam Ninh. Phụ tá cho Hứa Thế Hanh là Dương Đắc Chí, từng nổi danh khi phụ tá cho Bành Đức Hoài trong chiến tranh Triều Tiên.

Trong những ngày đầu cuộc chiến, tướng Hứa Thế Hanh trực tiếp chỉ huy mặt trận tấn công Cao Bằng, Lạng Sơn, còn Tướng Dương Đắc Chí phụ trách tấn công Lào Cai, Lai Châu, Hà Giang. Trung Cộng đã điều động nhiều quân đoàn từ nhiều quân khu khác nhau: 2 Quân đoàn 13 và 14 được giao trách nhiệm tấn công Lai Châu, Lào Cai; 2 Quân đoàn 41 & 42 tấn công Cao Bằng; những Quân đoàn 43, 54 & 55 tấn công mạn Lạng Sơn và Quảng Ninh.

Về phía Việt Nam:

Phòng thủ biên giới Việt-Trung là trách nhiệm của những Quân khu I, II & III:

Tư lệnh Quân Khu I là tướng Đàm Quang Trung không phải là tướng có khả năng. Quân khu nầy gồm cả Cao Bằng và Lạng Sơn nên chịu áp lực nặng nề nhất của quân xâm lược Trung Cộng. Trong những ngày đầu, trách nhiệm phòng thủ Lạng Sơn được giao cho Tướng Nguyễn Văn Thương, Tư lệnh sư đoàn 3.

Tư lệnh Quân Khu II là tướng Vũ Lập, chịu trách nhiệm phòng thủ Lai Châu, Lào Cai và Hà Giang.

Tư lệnh Quân Khu III là Nguyễn Quyết, chịu trách phòng thủ vùng Châu thổ sông Hồng và có lẽ cả Đặc khu Quảng Ninh do Sùng Lãm chỉ huy.

Bộ Tổng Tham Mưu đặt tại Hà Nội trực tiếp theo dõi, giám sát và điều hợp mặt trận.

Để thi hành Hiệp ước Hữu Nghị, Liên Sô gửi sang Hà Nội một phái đoàn “tham mưu” cùng với thiết giáp hạm Senyavin túc trực ngoài khơi vịnh Bắc Việt. Và có lẽ vì chủ quan vào hậu thuẫn của Liên Sô, VN đã tính toán sai lầm về quyết tâm tấn công quân mô của quân Trung Cộng, nên Hà Nội đã tung hết 3 trong 4 Quân đoàn chính quy vào trong cuộc hành quân xâm lăng Campuchia. Vì vậy, khi quân Trung Cộng bất ngờ mở cuộc tấn công, VN chỉ còn những sư đoàn 308, 312, 390... của Quân đoàn 1 đóng quanh Hà Nội.

Do đó, trách nhiệm phòng thủ biên giới được giao cho những sư đoàn chính quy Quân khu như: Sư đoàn 3, 327, 337, sư đoàn Tây Sơn... khu Lạng Sơn.

Sư đoàn 567, B46, sư đoàn pháo binh M66 ở Cao Bằng. Các sư đoàn 316, 345, đoàn B68, M63... ở Quân khu II, phối hợp cùng các Trung đoàn chủ lực tỉnh, các huyện đội và lực lượng công an biên phòng.

Hơn một tuần sau, vì tình hình chiến sự nguy kịch, Bộ Tham mưu của QĐNDVN phải gấp rút điều động dân quân từ vùng Trung Châu, các sư đoàn chinh quy của Quân Khu IV, cùng Quân đoàn 2 từ Campuchia về tăng cường phòng thủ.

Trong những ngày đầu cuộc chiến, dựa vào quân số đông đảo, tướng Hứa Thế Hữu cho áp dụng chiến thuật biển người để tấn công. Tại Lai Châu, phía cực Tây biên giới, quân Trung cộng tấn công Gò Tô, Phong Thổ trên đường tiến về tỉnh lỵ Lai Châu.

Tại hướng quan trọng Lào Cai, 2 sư đoàn thuộc Quân đoàn 13 và 14 tấn công ngay vào thị xã và các xã lân cận như Thanh Bình, Bản Châu. Tại Hà Giang, họ tấn công Bản Kiệt, La Quỳnh. Hướng quan trọng thứ hai là Cao Bằng cũng bị 2 sư đoàn của các Quân đoàn 41 & 42 tấn công. Tại Quảng Ninh, 2 trung đoàn quân TC tấn công Than Phum, Cao Bá Lãnh.

Riêng tại mục tiêu chủ yếu Lạng Sơn, quân TC tấn công theo thế gọng kềm bằng hai hướng: Hướng thứ nhất là 2 sư đoàn 163, 164 thuộc Quân đoàn 55 vượt Hữu Nghị Quan tấn công Đồng Đăng, cửa ngõ phía Bắc Lạng Sơn. Hướng thứ hai do 2 sư đoàn 127 & 128 thuộc Quân đoàn 43 tiến đánh từ phía Đông vào các tiền đồn ở Bản Xuân, Đồng Nội, Hải Yến.

Tại khắp mặt trận, quân TC gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của QĐNDVN, nhờ vào vị trí hiểm trở với sự yểm trợ hữu hiệu của đủ loại pháo binh 72, 85, 105, 155, 130 đến hỏa tiễn 122 ly đã gây tổn thất nặng nề cho quân TC, nhất là tại mặt trận Lạng Sơn và Cao Bằng. Về phía Lai Châu và Lào Cay bị tổn thất nhẹ hơn vì Dương Đắc Chí đã không tấn công chính diện mà dựa vào địa thế rừng núi hiểm trở để tiến quân và các mũi tấn công được pháo binh và thiết giáp yểm trợ hữu hiệu hơn. Vì tổn thất quá cao, Hứa Thế Hanh buộc phải bàn giao quyền chỉ huy các cuộc hành quân cho Dương Đắc Chí.

Sau khi Dương Đắc Chí nắm quyền, chiến thuật biển người bị hủy bỏ và áp dụng tối đa hỏa lực pháo binh và thiết giáp yểm trợ bộ binh. Sau mấy ngày đêm bị pháo kích, các công sự phòng thủ lần lượt phị phá sập. Quân TC cuối cùng đã chiếm được một số mục tiêu. Riêng tại Lạng Sơn, sư đoàn 163 của TC chiếm được Đồng Đăng vào ngày 22/2/1979.

Sau khi được bổ sung quân số và tiếp liệu đầy đủ, quân TC mở đợt tấn công mới. Dương Đắc Chí tận dụng tối đa quân số áp đảo, hỏa lực pháo binh và thiết giáp yểm trợ nên chỉ trong vòng một ngày, các thị xã ven biên Lai Châu, Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang lần lượt bị thất thủ, sau đó quân TC tiếp tục chuyển quân về phía Nam dọc theo Quốc lộ số 2 tiến đánh Cam Đường.

Tại hướng tấn công chính Lạng Sơn, quân TC tung 6 sư đoàn 127, 129 thuộc Quân đoàn 43, sư đoàn 160, 161 thuộc Quân đoàn 54, sư đoàn 163, 164 của Quân đoàn 55 với hàng trăm xe thiết giáp cả đại bác yểm trợ. Về phía VN, các đơn vị phòng thủ chính gồm các sư đoàn 3, 327, 338, 347 và sư đoàn 337 mới từ Quân khu IV ra tăng viện, kết hợp thành Quân đoàn 14 để thống nhất chỉ huy.

Thị xã Lạng Sơn bị pháo kích suốt ngày đêm, cuối cùng quân TC xâm nhập được thị xã và quân đội 2 nước cộng sản đã phải chiến đấu ác liệt trên đường phố, cho tới khuya đêm 14 /3/1979, quân TC hoàn toàn làm chủ thị xã Lạng Sơn. Ngày hôm sau, TC tuyên bố đã được mục đích dạy cho các lãnh đạo ĐCSVN một bài học, đơn phương ngưng bắn và sẽ lui binh.

Trên đường lui binh, quân TC dùng công binh phá sập hết những công sự, đồn bót, cầu đường, trường học, chợ búa, nhà máy, bệnh viện... ở những thị xã bị chiếm đóng, kể cả hang Pắc Bó, “suối Lê Nin”, “núi Các Mác” và cuộc rút quân của Trung Cộng kéo dài đến ngày 16/ 3/1979 mới hoàn tất.

Không có tài liệu chính thức nào được công bố số quân dân thương vong của hai bên tham chiến. Người ta chỉ ước lượng là trên 100.000 người cho cả hai bên trong cuộc chiến gần 30 ngày giao tranh đẫm máu sau khi khi quân TC chính thức rút quân vào ngày 16/3/1979.

Trên đường tấn công, cũng như rút lui, quân TC nã đạn bừa bãi không thương hại đối với bất cứ người già, đàn bà, trẻ con mà họ gặp trên đường tiến quân. Sư đoàn 163 TC nhận được lệnh từ cấp chỉ huy là “sát cách vô luận” (giết người không bị buộc tội); do vậy, lính TC đã thẳng tay sử dụng súng tiểu liên, đại bác, hỏa tiễn, súng phun lửa... để tiêu diệt con người và tài sản từ làng này sang làng khác, số thường dân VN bị giết trên hàng ngàn người.

Tại Bát Xát thuộc Lào Cai, hàng trăm phụ nữ bị đạo quân thổ phỉ Trung Cộng, một loại rợ Hung Nô của thế kỷ thứ XX hãm hiếp, bị giết dã man ngay trong ngày đầu vượt biên giới Việt-Trung thì tại thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng trong ngày 9/3/1979, trước khi rút quân, quân Trung Cộng đã giết 43 người gồm phụ nữ, 20 trẻ em, trong số nầy có 7 phụ nữ mang thai. Tất cả đều bị giết bằng mã tấu, 10 người bị ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối.

Kết quả giết người dã man đó, được Đặng Tiểu Bình cười hả hê, nói: “Mười một ngày này, trên đường trở về đã quét dọn một số hang, có một số vật tư giấu ở hang nầy, hang nọ, một số thôn trang, cũng quét dọn mấy ngàn người, trên vạn người.”

oOo

Ngay khi quân xâm lược Trung Cộng rút lui về bên kia biên giới, trên toàn cõi Việt Nam đâu đâu cũng nghe tiếng gào thét về sự dã man của quân Trung Cộng. Những áp phích tố cáo tội ác của quân TC xâm lược được dựng lên ở các ngã ba, ngã tư đường. Tranh cổ động tràn ngập trên các bức tường nơi có nhiều người qua lại. Học sinh được học những bài học về những lần Bắc thuộc về sự tàn bạo của quân Tàu khi đô hộ VN, được hát những bài hát có những lời ca hết sức hằn học.

Bia tưởng niệm những người bị quân xâm lược Trung Cộng giết hại hồi tháng 2 năm 1979 ở thôn Tổng Chúp, xã Hưng đạo, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng (huyện bao quanh thị xã Cao Bằng). Nội dung như sau: “Vụ thảm sát tại Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, Huyện Hòa An, quân Trung Cộng xâm lược dùng cọc tre, búa bổ củi đập chết 43 phụ nữ và trẻ em quăng xuống giếng nước.”













Vậy mà 34 năm sau, những tên lãnh đạo ĐCSVN không cho làm lễ tưởng niệm những chiến sĩ đã hy sinh bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam. Ban Văn Hóa Tư Tưởng của BCHTƯ đảng đã lập lại lệnh cấm hệ thống truyền thông đề cập đến cuộc chiến tranh xâm lược mà quân Trung Cộng thực hiện ngày 17/2/1979.

Đã vậy, báo Hà Nội số ra ngày 19/9/2008 lại trâng tráo cho đăng bài ca tụng tài dùng binh thần tốc đầy mưu lược của tên giặc Tàu Hứa Thế Hanh, đã oanh liệt đập tan QĐNDVN. Hứa Thế Hữu là người chỉ huy đánh 2 tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn năm 1979, như một cách xát muối vào vết thương lòng của những người Việt Nam có thân nhân trong QĐNDVN đã anh dũng hy sinh để bảo vệ từng tấc đất, từng cao điểm chiến lược nơi tuyến đầu biên cương của Tổ quốc.

Ngoài ra, báo còn ca tụng những anh hùng quân đội Trung Cộng như “liệt sĩ” Tiền Anh Hào trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Chứ không hề có một lời tôn vinh một liệt sĩ anh hùng nào trong QĐNDVN đã vị quốc vong thân, bỏ mình vì nước.

Trong khi đó, tại nghĩa trang liệt sỹ Long Châu, nơi chôn xác quân xâm lược Trung Cộng tử trận trong cuộc tràn qua biên giới xâm lăng Việt Nam vào ngày 17/2/1979 thì Tập đoàn lãnh đạo ĐCSVN ra lệnh cho chánh quyền địa phương đặt vòng hoa, có ghi hàng chữ bằng tiếng Việt: “Đảng ủy, Hội đồng Nhân dân, Ủy Ban Nhân dân, Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc xã Đề Thám đời đời nhớ ơn liệt sĩ liệt sĩ Trung Quốc.”


Khốn nạn chưa! Tại sao bọn lãnh đạo ĐCSVN vô liêm sỉ lại chà đạp thân phận của những người lính QĐNDVN đã đổ máu để bảo vệ Tổ Quốc chống quân xâm lược Trung Cộng? Tại sao ĐCSVN bắt buộc nhân dân Việt Nam phải đời đời nhớ ơn quân xâm lược Rợ Đại Hán đã tàn sát dã man dân làng một cách man rợ? Một câu hỏi được đặt ra: “Tập đoàn lãnh đạo ĐCSVN có còn là người Việt Nam nữa hay không?”

Sự kiện nầy chứng tỏ bản chất của tập đoàn lãnh đạo ĐCSVN là hiện thân những tên Thái thú của bọn Trung Nam Hải. Những tên lãnh đạo vô liêm sỉ nầy nhìn cuộc chiến biên giới năm 1979 qua lăng kính của bọn Tàu khựa. Trong khi đó, những tác phẩm của các nhà văn Việt Nam viết về cuộc chiến tranh biên giới Việt - Trung đều bị cấm đoán. Điển hình là tập truyện ngắn của Vũ Ngọc Tiến bị thu hồi và nhà xuất bản Đà Nẵng bị đóng cửa thì cuốn “Ma Chiến Hữu” của Mạc Ngôn ca ngợi người lính Trung Cộng anh hùng đã hy sinh vì Tổ Quốc Trung Hoa, lại được văn nô Trần Trung Hỷ dịch ra tiếng Việt, được nhà xuất bản Văn học Phương Nam ấn loát và phổ biến rộng rãi.

Ngày nay 34 năm sau, dường như không còn chút vết tích gì về cuộc chiến đó trên quê hương Việt Nam. Hầu hết trên các tỉnh phái Bắc, nơi xảy ra các cuộc chiến, những tấm bia nào có ghi dòng chữ “quân Trung Quốc xâm lược” đều bị đục bỏ hoặc xóa sạch. Cũng có những nghĩa trang chôn cất những người lính trong QĐNDVN đã hy sinh trong trận chiến bảo vệ Tổ quốc lại đìu hiu, không khói nhang lạnh lẽo đến ngậm ngùi xót xa.

Tại nghĩa trang Duyên Hải, Lào Cai là một điển hình chua xót. Cũng từ cái chủ nghĩa hy sinh cao cả ấy, các anh đã cầm súng chiến đấu với giặc thù và đã anh dũng hy sinh đền nợ nước và sự hy sinh của các anh ngày hôm nay, đã bị bọn lãnh đạo ĐCSVN phản bội trắng trợn và chà đạp tàn nhẫn lên những nấm mồ bỏ hoang của các anh. Sự hy sinh của các anh đã tan biến vào cõi hư vô, âm thầm như những cái chết vô danh. Những nấm mộ nầy vẫn nằm im lặng trong lãng quên của nhiều người; ngoại trừ nỗi buồn đau xót xa của những chiến hữu và người thân các anh còn ở lại trên cõi đời nầy. Những nấm mồ hoang vắng của các anh là chứng tích hùng hồn tố cáo sự phản bội quá trắng trợn của tập đoàn lãnh đạo ĐCSVN đã chà đạp lên thân phận của người lính QĐND Việt Nam anh hùng đã hy sinh vì Tổ quốc.

Tuy vậy, trên “Blog Osin”, người đọc được biết tác giả “Biên Giới Tháng Hai” cho biết:

“Chỉ có một vài bó hoa và những nén hương của lữ khách, các nghĩa trang biên giới quạnh hiu suốt ngày 17/2/1979. Tội đợi đến chiều, trao đổi với các đồng nghiệp và điện thoại cho một vài quan chức địa phương, không có một cuộc viếng thăm, không một vòng hoa và chẳng có khói nhang nào. Tôi không có các tài liệu chính thức để biết Trung Quốc và Việt Nam đã thỏa thuận với nhau những gì về cách ứng xử đối với cuộc chiến năm 1979. Nhưng tôi không nghĩ rằng, tưởng nhớ những người đã khuất lại có thể phương hại đến các cuộc viếng thăm giữa hai nước hôm nay.

Tối 15 tháng 2, ngồi nói chuyện với một người đã từng lái xe tải thương ở Hà Giang trong những năm từ sau 1979, những chuyến xe có những thương binh ngồi chung với các liệt sĩ từ biên giới trở về. Xe anh bao giờ cũng có thẻ hương và một thân cây chuối chặt ngang. Nhiều khi dừng lại, mới hay trên chuyến xe, anh là người sống sót cuối cùng. Nhiều thương binh đã không kịp về tới bệnh xá dã chiến. Anh lấy hương thắp lên, cắm vào khúc chuối rồi ngủ thiếp đi bên đồng đội đã yên giấc ngàn thu. Những năm quyết lấy lại điểm cao 1509, có những chuyến xe, tối chở bộ đội lên, sáng trở về đầy xác. Những người lính ấy trong chiến tranh đã từng tranh giành những cao điểm với giặc. Giờ đây, lặng lẽ bên nhau không giành giật điều gì.

Những người lính ấy không cần lễ nghi và có thể cũng không biết rằng, họ lại bị quên lãng nhanh chóng như thế. Nhưng, những người còn sống thì cần. Không phải là điểm cao 1509 đầy máu, chỉ là một nấm mồ lặng lẽ. Đừng hoảng hốt. Hàng năm, 17 tháng 2 hãy đến đấy và thắp một chút nhang khói. Hãy cầu xin sự thanh thản, cho mình.”

Kết luận:

Đáng lẽ ngày 17 tháng 2 hàng năm, lãnh đạo ĐCSVN phải tổ chức một buổi lễ long trọng tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ đã hy sinh trong cuộc chiến tranh với Trung Cộng. Vì đó là dấu móc mà nhân dân Việt Nam đời đời khắc cốt, ghi xương vì bản chất hung bạo, tàn sát dã man đồng bào ta của bọn lính Trung Cộng mọi rợ.

Vậy mà, bọn lãnh đạo ĐCSVN nỡ lòng nào cản trở không cho các phái đoàn với đồng bào mọi giới đến dâng hương và đặt vòng hoa tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ vị quốc vong thân đã anh dũng hy sinh đền nợ nước trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Trung Cộng ở biên giới phía Bắc cách đây 35 năm.

Blogger Lã Dũng, thuật lại với VOA Việt ngữ:

“Mọi người đi đến nghĩa trang Đài tưởng niệm liệt sỹ ở Bắc Sơn, Ba Đình (Hà Nội) cũng bị cản trở ở đấy. Họ không cho đưa vòng hoa vào. Cuối cùng, mọi người phải bái vọng ở ngoài mặc dù trong đoàn có rất nhiều người là cán bộ lão thành cách mạng. Không đưa được vòng hoa vào đấy, mọi người có đưa vòng hoa về Gò Đống Đa, nơi tưởng niệm anh hùng dân tộc Quang Trung Nguyễn Huệ. Mọi người có đặt 2 vòng hoa ở đó với khẩu hiệu: “Tưởng Niệm Những Chiến Sĩ Đã Hy Sinh Vì Chống Trung Quốc Xâm Lược”.

Khi chúng tôi đến nơi, chúng tôi cũng vào tưởng niệm và chụp ảnh. Lúc đó, có một bảo vệ đến đọc vòng hoa khá kỹ. Khi thấy dòng chữ trên vòng hoa, họ định gỡ xuống. Chúng tôi cản, yêu cầu họ không được gỡ. Họ bảo băng rôn trên vòng hoa này không được và họ gỡ xuống dù họ không nói được một quy định nào cả. Anh bảo vệ gọi công an vào. Lúc sau, một Trung tá công an đến hống hách kêu chúng tôi gỡ vòng hoa ấy đi. Chúng tôi không đồng ý và gọi họ gọi thêm một số người tới nữa, giằng co, xô xát với chúng tôi tại Đài Tưởng Niệm đó. Khi chúng tôi vừa quay đi đến cửa thì thấy hai anh công an vệ sinh mang hai vòng đi, hạ xuống.”

Rõ ràng, tập đoàn Lãnh đạo ĐCSVN đã nhẫn tâm phản bội & chà đạp lên thân phận của lính QĐNDVN đã hy sinh chống quân Trung cộng xâm lược để bảo vệ tổ quốc.

Chưa hết, một tờ báo Công An thành Hồ, số ra ngày thứ sáu 29/3/2013, có nội dung giả dối trơ trẻn, đọc xong cái tựa đề là tôi muốn nôn mửa: “đảng là máu thịt, trái tim và khối óc của quân đội”.

Người lính QĐNDVN đã sáng mắt ra chưa?

04.089.2016
Nguyễn Vĩnh Long Hồ



       


__._,_.___

Posted by: truc nguyen 

Featured post

Vlog -27/10/2026/Vlog -28/10/2026

My Blog List